Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

KHU DU LỊCH HẦM HÔ

 

Hầm Hô thuộc thôn Phú Lâm, xã Tây Phú, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định cách Thành phố Qui Nhơn 50km về phía Tây Bắc. Nằm trong lòng sông Kút đổ ra sông Kôn có dòng nước quanh năm xanh biếc, vẻ đẹp Hầm Hô thật kỳ vĩ. Trước mắt du khách là cảnh núi rừng trùng điệp. Hai bên bờ sông rừng cây nguyên sinh rợp bóng mát là vách núi dựng đứng. Lòng sông có những dãy đá Hoa Cương nhiều hình thù kỳ lạ muôn màu lóng lánh, rực rỡ tạo nên kho tàng đá đầy huyền thoại. Nước sông cuộn chảy quanh co theo các ghềnh thác với các địa danh rất sử thi và lãng mạn như: Đá Thành, Đá Bàn Cờ, Đá Chùm, Đá Dựng, Đá Trải, Cửa Sanh, Cửa Tử, Thác Cá Bay, Vũng Cá Rói, Hòn Trào, Hòn Lò Rượu, Dấu Chân Khổng Lồ... luôn tạo cho du khách cảm giác mát mẻ, sảng khoái. Có thể nói cảnh quan, trời mây, sông nước Hầm Hô như là cảnh tiên thật “Sơn thủy hữu tình” càng đi vào sâu, cảnh vật càng kỳ thú, hương rừng ngào ngạt, chim hót líu lo làm cho cuộc sống thêm thi vị.


Hầm Hô còn có nhiều tên gọi khác nữa là: Linh Đỗng, Lộc Đỗng, Đồng Hưu, Lộc Giang là vùng đất địa linh nhân kiệt ở địa phương. Một di tích danh thắng có núi rừng đại ngàn trùng điệp, rộng hàng chục ngàn hecta. Có nhiều sông, suối trong mát đi qua để lại bao bến nước, vực sâu, thác cao, hang hầm thật êm đềm, thâm sâu, kỳ vĩ.
“ Hầm Hô nước chảy trong xanh
Dưới sông cá lội, trên cành chim reo”
Thuở xưa cư dân khẩn hoang, lập ấp tôn sùng Hầm Hô là vùng đất linh thiêng. Khi nắng hạn dân làng tới Hầm Hô vào ban đêm cúng trời đất, sơn thần, thủy thần dâng lễ cầu mưa. Nửa đêm giờ tý canh ba lễ cầu mưa diễn ra tại vị trí có tên gọi là Miệng Hầm Hô hoặc Thác Cá Bay. Mọi người cùng xuống sông “ Đập thác kêu trời “ và đổ lá thuốc Đơn Đơn đã giã nhỏ xuống sông làm cho Tôm, Cua, Chình, Cá bị chết. Trời đất, thủy thần phải cho mưa để cứu binh tôm, tướng cá, nếu không có mưa thì lá thuốc sẽ ngấm theo dòng chảy tiêu diệt các loài thủy sinh cả con sông dài.
Khi lễ cầu mưa bi thiết đã thấu trời đất, thánh thần, thì giữa đêm thanh vắng bỗng nghe rõ những âm thanh ào ào như nước cuốn, vù vù như gió bay, lẫn trong ấy có tiếng hô hoán của đông người như tiếng thần linh đang hú gió, gọi mây. Quả nhiên sau đó là một trận mưa giông thật lớn, nước sông tràn trề, đồng ruộng xanh tươi trở lại.
Nơi diễn ra lễ cầu mưa là một dãy đá to lớn, chắn ngang dòng sông làm nước dâng cao lên. Nước không chảy tràn qua dãy đá, mà thoát về hạ lưu ầm ầm bằng con đường hầm sâu dưới chân dãy đá. Nhìn và nghe nước chảy vào hầm sâu như một cái miệng khổng lồ đang uống nước cả dòng sông, lá thuốc Đơn đơn cũng được đổ xuống nơi này, những âm thanh báo mưa cũng phát ra rõ ràng và mạnh mẽ nhất tại đây, vì vậy mà có tên gọi là “Hầm Hô”. Cho đến nay trước những cơn mưa lớn vào mùa nắng hạn những âm thanh ấy vẫn còn xảy ra.

Ngoài cảnh quan danh thắng Hầm Hô còn là một vị trí chiến lược quân sự tự cổ chí kim, là căn cứ địa quan trọng trong phong trào nông dân khởi nghĩa Tây Sơn, phong trào Cần Vương của nguyên soái Mai Xuân Thưởng, chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Các địa danh nổi tiếng trong khu du lịch Hầm Hô


Dinh Tiền Hiền:
Là ngôi đền nhỏ nằm trên sườn núi, tả ngạn sông Hầm Hô, do dân làng lập ra đã lâu đời, thờ hai anh em ông Lê Kim Bôi, Lê Kim Bảng, người có công đức xây dựng công trình thủy lợi ngăn sông Hầm Hô. Vào cuối thế kỷ 18 thời hậu Lê. Ông Lê Kim Bôi được triều đình phong chức Điền sứ, quản lý cả dân binh, vật lực trên đất dưới nước, có quyền tiền trảm hậu tấu để xây dựng các công trình dẫn thủy nhập điền mở mang ruộng đất. Ông lâm bệnh qua đời, triều đình cử em ruột là ông Lê Kim Bảng tiếp tục sứ mạng anh mình đến khi hoàn thành đưa nước tưới cho ruộng đồng xã Tây Phú, Tây Xuân, Phú Phong bây giờ. Ông Lê Kim Bảng cũng qua đời nơi đây, dân làng an táng hai ông tại Đồng Tranh thôn Phú Lâm, lập đền thờ và tổ chức cúng giỗ để tưởng nhớ công đức hai vị tiền hiền tại dinh thờ vào lúc 0 giờ ngày 20 tháng giêng hàng năm.

Đập Hầm Hô:


Còn có tên gọi đập Lộc Đổng, đập Lộc Giang, là công trình thủy lợi đập dâng tại ngã ba sông Hầm Hô để đưa nước tưới cho hàng ngàn mẫu ruộng. Với địa hình sông nước, núi đá khắt nghiệt, người xưa đã dùng gỗ, đá, đất, lá bồi đắp thành con đập ngăn sông, dùng củi đốt cùng với muối trên tầng đá gốc cho vỡ dần ra từng mảnh làm thành kênh đầu mối, với xe đẩy cút kít, bên, xà ben chủ yếu bằng gỗ cứng (lúc ấy đò sắt hiếm) bàn tay con người lúc ấy đã đào đắp, vận chuyển hàng chục vạn khối đất cát làm thành hệ thống kênh mương dài 10km.
Cách đây trên hai thế kỷ mà làm nên công trình như vậy thật là con người có tấm lòng yêu nước thương dân. Thật là anh hùng.
Còn bây giờ một đập bê tông vững chắc được xây dựng thay cho đập cũ ngày xưa, bờ đập làm cho nước dâng lên thành một Hồ bơi êm ả, tạo thành bến đò cho thuyền đưa khách lại qua, làm lối đi sang bên hữu ngạn. Bờ đập rất đẹp khi nước vừa tràn qua rào rào như một chiếc rèm ngọc lung linh.

Hòn Bóng:
Xưa kia giữa sông có một tản đá lớn làm điểm tựa để gác đà gỗ thân đập, lâu năm nước xoáy làm trốc ngã hòn đá ấy, đập không đắp được, đồng điền khô héo, dân tình đói kém. Dân làng nhiều lần tìm cách đắp lại đập ở vị trí mới nhưng đều bị nước cuốn trôi vì không có điểm tựa. Có một tảng đá đứng sừng sững giữa sông, khi xế chiều bóng của nó ngã dài xuống đúng vị trí cần làm điểm tựa. Các hộ lão thay phiên ăn chay, nằm đất cầu trời khấn phật sao cho tảng đá ngã thật sự chỗ bóng chiếu của nó. Trong thời điểm đang cầu nguyện thì một trận lũ lớn từ xẩm tối đến gà gáy. Nửa đêm, lúc đang mưa to gió lớn nước chảy đùng đùng bổng nghe một tiếng nổ long trời lở đất ai cũng hãi kinh, sau đó nghe rõ tiếng kèn, tiếng trống vang lừng giữa dòng sông, sáng rõ mặt mọi người đều nhìn thấy tảng đá mong đợi đã ngã xuống đúng vị trí bóng chiếu của nó để làm điểm tựa đắp thành đập mới, đem lại ấm no cho xóm làng. Tên gọi “Hòn Bóng” bất đầu từ đấy.



Đá Đôi:
Cách Hòn Bóng 20m phía trên bờ đập hai hòn đá nhô lên khỏi mặt nước và áp sát vào nhau người ta gọi là “Đá Đôi” . Có người cho rằng hòn lớn là hòn mái còn hòn nhỏ là hòn trống, dù trải qua bao nhiêu trận lũ lớn, bao nhiêu bom đạn của chiến tranh diễn ra ở nơi đây nhưng hai hòn đá vẫn không lay chuyển điều đó thể hiện sự gắn bó không rời. Có quan niệm cho rằng những ai đã đến Hầm Hô đứng trước Đá Đôi tâm niệm thành khẩn thì những ai chưa có ý trung nhân không lâu sau sẽ có một người vừa ý, còn nếu những ai đã có gia đình chắc chắn sẽ có được một niềm hạnh phúc vĩnh hằng.
Cây đa bến nước:
Bên cạnh nhà hàng Hoa Lộc Vừng, một cây đa cổ thụ chừng mấy trăm năm tuổi, rễ xõa dài quấn quít cắm sâu vào lòng đất, cành xòe rộng vươn dài rợp mát cả góc rừng và bến nước trong xanh với bờ cát vàng mịn thoải chạy ra xa.
Qua bao mưa gió thăng trầm cây đa bến nước từng ấp ủ chở che cho những chuyến đò đưa khách lên xuống qua lại. Những bình minh ríu rít chim ca, những trưa hè rộn rã ve ngân, những chiều tà tĩnh lặng có chuyến đò về muộn trên sông... mà mắc võng dưới vòm lá dõi ra bến nước, hồn quê dâng đầy lên cảnh sắc và cả trong lòng ta.
“ Cây đa bến nước không già
Trải bao thu vẫn mặn mà tình quê”

Hòn chuông:
Bờ đập đi lên theo tả ngạn 100m, nhìn ra sông thấy tảng đá lớn nửa chìm, nửa nhô lên mặt nước. Ngầm dưới nước có một đường hầm ăn sâu dẫn vào giữa thân đá, đừng sợ, bạn sẽ lặn vào và nhô đầu lên khỏi mặt nước hít thở thoải mái và thậm chí có thể uống vài lon bia. Quan sát kỹ thấy như ta đang ở trong một Đại hồng chung úp miệng xuống đáy nước, thành đá nước mài nhẵn bóng và màu đỏ nhạt như đồng. Điều đặc biệt là gõ vào thành đá nghe ngân nga tiếng chuông đồng, tiếng nói, lời ca phát ra trong đá chuông nghe vang vọng, thanh toa, trầm ấm như trong phòng bá âm siêu hạng.

Đá Thành:
Qua bờ đập chúng ta đi ngược lên dòng sông theo hướng Tây Nam một đoạn vài trăm mét ghé qua sườn đá bên phải có vách đá cao dựng đứng người ta gọi là “ Đá Thành” , bởi lẽ hòn đá này đứng như một bức tường thành thực sự. Bờ đá rêu mọc xanh rì, bên trên  cây rừng mọc cheo leo, không đất bám nên các rễ cây cứ thòng xuống như những sợi tóc tiên vậy.

Đá Trải:
Nằm ở khu vực cầu cong qua sông, đá ở đây là đá mẹ không nhô cao mà trải rộng ra như những chiếc chiếu, khi mát trời hoặc lúc bơi lội ta sẽ lên ngã lưng trên đá trải ngắm trời mây sông nước, thật thư giãn.


Hòn Gõ:
Là một cụm núi chạy theo hữu ngạn Hầm Hô dài 2.000m, có nhiều gỗ quý là cây gõ bây giờ vẫn còn, cho nên có tên gọi là “Hòn gõ”. Cụm núi có phần yên ngựa bằng phẳng ở giữa nối liền hai đỉnh nhọn theo hướng Đông-Tây, chính nơi đây là căn cứ địa quân sự tự cổ chí kim như ta đã biết, vì Hòn gõ có rừng xanh che giấu, có sông nước dồi dào, có hang sâu vững chắc để trú ngụ, kể cả bom đạn hạng nặng cũng không phá được, tiến thoái, công thủ lưỡng toàn. Đứng ở đỉnh Hòn gõ nhìn ra đồng bằng thấy rõ địa bàn huyện Tây Sơn và Phù Cát, có lẽ Mai nguyên soái đã dựng cờ nghĩa quân Cần Vương tại nơi đây.
Bạn hãy lên Hòn gõ đứng ở tầm cao nhìn núi rừng, sông suối, đất trời lồng lộng và hồi tưởng những chặn đường lịch sử bi hùng, thấy lòng cảm khái mà tưởng chừng nghe đâu đây còn vang vọng tiếng quân reo.
“ Ngó vô linh đỗng mây mờ
Có Mai nguyên soái dựng cờ đánh Tây”

Hang Bảy Cử:
Một hang nhỏ rộng chừng 6m2 nằm sát chân thác nước đổ xuống gót đập bờ phía Nam, mái hang được che nghiêng bằng một phiến đá phẳng phiu, nền hang là cát mịn trải ra tận dòng nước chảy. Ngày xưa Mai nguyên soái thường ra ngồi trong hang vừa buông câu vừa xung luận chuyện quân cơ, ông đậu cử nhân và con thứ bảy trong gia đình nên có tên gọi “Hang Bảy Cử”. Nay đến Hầm Hô vào hang bảy cử cùng bạn bè vừa buông câu vừa đàm đạo và nâng cốc rượu Tây sơn thơm lừng thì thật tuyệt.

Hòn Bánh Ít:
Từ Hang Bảy Cử ngược theo dòng sông ta có thể bắt gặp một hòn đá gần bờ có hình dạng như một cái bánh ít, người ta gọi hòn đá này là “ Hòn Bánh Ít”, khi đến Hàm Hô đi qua Hòn Bánh Ít không ai trong chúng ta không liên tưởng một loại bánh thường có trong mỗi dịp đám giỗ truyền thống, đám rướt dâu đó là bánh ít lá gai, đây được coi là một đặt sản của Bình Định.
“Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Định sợ dài đường đi”

Đá Bóp Vú:
Cái tên nghe thật ngộ nghĩnh, nhưng hoàn toàn có thật. Đây là một điểm cao nằm trên triền núi Hòn gõ, ở đây đá dựng chập chùng, thác reo rộn rã, cảnh trí hùng vĩ và thu được toàn cảnh Hầm Hô trong tầm mắt, muốn đến đây phải vượt qua vách đá đồ sộ bằng một khe nhỏ chỉ có nghiêng người mới qua được, khi nghiêng mình thì ngực ta chạm vào vách đá, hai tay ta bóp mạnh vào hai núm đá nhọn như núm vú để đi lên, ai có bộ ngực nở nang thì chắc chắn phải bóp hai tay thật chặt vào hai núm đá và cọ mạnh bộ ngực mới mong vượt qua. Nhiều đôi tình nhân, nhiều nam thanh nữ tú mới quen nhau rất thích đến đá bóp vú để chàng dìu dắt nàng qua, đây là cơ hội tốt đẹp cho tình yêu nhân lên nhờ đá. Vì vậy mà có tên gọi là “Đá bóp vú”.
“Đá đứng bao năm tự thuở nào
Tựa mình vào đá thấy xôn xao
Em qua thành vách cheo leo ấy
Đá có cho em chút ngọt ngào"

Thác cá bay:
Còn có tên gọi là Miệng Hầm Hô. Nơi đây thác mạnh đổ xuống gặp dãy đá chắn ngang thì dâng lên và thoát về hạ lưu bằng đường hầm sâu với dòng chảy cực mạnh, các loài cá trên sông có tập tính là mùa mưa kéo nhau xuôi về hạ lưu, có loài ra tận biển cả để sinh sôi, mùa nắng cá bố mẹ và con cái kéo nhau ngược dòng về thượng nguồn Hầm Hô đúng nơi chúng đã ra đi không hề nhầm lẫn, khi về đến Miệng Hầm Hô chúng không bơi qua nổi dòng chảy cực mạnh ấy nên phải bay lên không trung vượt qua dãy đá rơi xuống thác để tiếp tục hành trình về nguồn. Ngày xưa ta cho rằng loài vật cũng tu luyện để hóa kiếp, vượt qua dãy đá cao nơi đây chính là một chặng sát hạch quan trọng của thiên đình đối với loài cá để có thể hóa thành rồng. Vì vậy mà có tên gọi là “Thác Cá bay”.
Hàng năm vào khoảng tháng Ba âm lịch khi gió nam bắt đầu thổi thì cá bắt đầu bay qua thác cho đến khi gió nam thổi rộ vào tháng Năm âm lịch. Vào mùa cá bay dân làng đến đặt rổ lớn bằng tre đan trên dãy đá để hứng cá bay trông rất vui mắt.

Hòn non bộ:
Nằm giữa sông kề cận với Thác cá bay là một tòa đá trải bao năm tháng được nước mài nhẵn bóng, thân đá có nhiều đỉnh nhọn, hố sâu, chi nhánh, ngóc ngách trông như dãy núi hùng vĩ thâm sâu với bốn bề nước chảy ngắm hoài không biết chán.

Dấu chân khổng lồ:
Từ Hòn non bộ, qua Thác cá bay đến Đá bàn cờ có nhiều dấu chân người in lõm vào đá cứng với kích cỡ gấp ba lần bàn chân người bình thường đi theo hướng từ Đông sang Tây. Đây là dấu chân người khổng lồ thuở xưa đã một lần qua đây.
“Đá bàn in rõ dấu chân
Khổng lồ xưa đã một lần đi qua
Tiện tay xách quả núi già
Làm Hòn non bộ để ra giữa dòng”

Đá Bàn Cờ:
Nằm cùng phía hòn Đá Bóp Vú là Đá Bàn Cờ, thuở mới khai thiên lập địa nơi đây là nơi du ngoạn dừng chân của thần tiên từ trên xuống vào những đêm khuya tĩnh lặng để vừa đánh cờ vừa uống rượu thật là một thú vui tao nhã của các vị tiên từ thời xa xưa và cho đến ngày nay. Hiện nay dấu vết bàn cờ trên đá vẫn còn nên người ta gọi là “Đá Bàn Cờ”.

Lò Nấu Rượu:
Nằm cạnh Đá bàn cờ, là tảng đá vuông vức giữa dòng sông. Trên mặt đá có khoét nhiều lỗ tròn như bếp lò để chụm củi nấu rượu, phía dưới thân đá lại có một luồng nước nhỏ chảy ra quanh năm.
“Ngày xưa tiên ở trên trời
Thấy phong cảnh đẹp đến nơi du nhàn
Bàn cờ trên đá rõ ràng
Đây là lò rượu mấy ngàn năm qua”


Thác dốc:

Nằm ở hạ lưu Vực cây cầy, thác chia ra nhiều nhánh nhỏ chảy róc rách, uốn lượn đan xen vào nhau như một trận đồ, cuối cùng các nhánh nhỏ cũng tìm về với nhau hợp thành một dòng thác mạnh đổ ầm ầm tung bọt trắng xóa chảy vào Hầm Hô.
“Ai lên Thác dốc tư bề
Nước chia trăm ngả sơn khê chảy dồn”

Hòn Trào:
Hòn đá nằm ngay chính giữa dòng sông, có mũi nhọn lưng dẹp, có sống tựa như một con khủng long thời tiền sử. Do nằm ở giữa dòng sông nước từ trên thác chảy xuống bắt gặp hòn đá này nước lại trào lên bên trên tạo thành những bọt nước trắng xóa nên chúng ta gọi đó là “Hòn Trào”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét